Công nghiệp Việt Nam vượt qua biến động

Bước sang năm 2026, công nghiệp Việt Nam có điểm tựa quan trọng từ nền tảng phát triển được củng cố vững chắc sau nhiều năm kiên trì thực hiện các định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước. Khi kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều bất ổn, khu vực công nghiệp trong nước vẫn duy trì được vai trò trụ cột, đóng góp lớn cho tăng trưởng, xuất khẩu và ổn định kinh tế vĩ mô.

Việc triển khai Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia được xem là bước ngoặt quan trọng, tạo ra sự thống nhất trong tư duy và hành động của toàn ngành Công Thương. Điều này góp phần nâng cao nhận thức về vai trò trung tâm của công nghiệp trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo khuôn khổ để các ngành công nghiệp nền tảng và mũi nhọn phát triển theo định hướng rõ ràng.

margin: 15px auto;" />

Tỷ lệ nội địa hóa ô tô ghi nhận tín hiệu tích cực. Ảnh: Cấn Dũng

Năm 2025, phát triển công nghiệp đạt kết quả tích cực. Việt Nam đã hình thành được một số doanh nghiệp cơ khí có quy mô lớn, đủ năng lực tham gia các dự án trọng điểm quốc gia, từ cơ khí năng lượng, cơ khí thủy công đến sản xuất ô tô, đường sắt. Tỷ lệ nội địa hóa trong ngành đạt mức 35 - 40%, cho thấy năng lực sản xuất trong nước không ngừng được cải thiện.

Ngành sản xuất, lắp ráp ô tô cũng ghi nhận những chuyển biến tích cực. Dù tỷ lệ nội địa hóa đối với ô tô vẫn còn thấp, sự xuất hiện của các doanh nghiệp mang Thương hiệu Quốc gia và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế đã mở ra triển vọng mới. Đặc biệt, xu hướng chuyển đổi sang các động cơ thân thiện với môi trường đang diễn ra mạnh mẽ. Điều này cho thấy sự dịch chuyển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam theo hướng xanh và bền vững hơn.

Bên cạnh đó, các ngành luyện kim, khoáng sản, dệt may, da giày tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong chuỗi sản xuất và xuất khẩu dù phải đối mặt với áp lực từ thị trường thế giới. Các ngành này vẫn duy trì được tăng trưởng, tạo việc làm cho hàng triệu lao động và đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu. Những nỗ lực trong quy hoạch, tái cơ cấu và nâng cao giá trị gia tăng đang từng bước giúp các ngành truyền thống thích ứng tốt hơn với bối cảnh mới.

Đáng chú ý, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng ở cả 34 địa phương, cho thấy động lực sản xuất lan tỏa, không chỉ tập trung ở một số trung tâm công nghiệp lớn.

Mở dư địa, tạo kỳ vọng trong năm 2026

Bước sang năm 2026, công nghiệp Việt Nam đứng trước cơ hội mở rộng dư địa phát triển nhờ không gian rộng hơn, liên kết chặt chẽ hơn. Những thay đổi về thể chế, tổ chức bộ máy và phương thức điều hành được kỳ vọng tạo xung lực mới cho khu vực sản xuất, đặc biệt trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái cấu trúc và yêu cầu về tính kết nối vùng ngày càng trở nên cấp thiết.

Một trong những điểm đáng chú ý là chủ trương sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã gắn với việc tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, mở ra không gian phát triển mới cho công nghiệp, khi các địa phương được tổ chức lại theo hướng tăng quy mô, giảm phân mảnh và nâng cao năng lực điều phối vùng. Việc giảm bớt “điểm nghẽn” về địa giới được xem là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả đầu tư và sản xuất.

Năm 2026, công nghiệp Việt Nam đứng trước cơ hội mở rộng dư địa phát triển nhờ không gian rộng hơn, liên kết chặt chẽ hơn. Ảnh minh họa

Nhận định về vấn đề này, bà Trương Thị Chí Bình, Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) cho rằng, việc sáp nhập tỉnh, thành phố và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp sẽ tạo ra sự thay đổi trong cách thức phát triển công nghiệp. Các địa phương sẽ quy hoạch công nghiệp theo không gian vùng thay vì manh mún theo từng tỉnh, từng huyện như trước. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với công nghiệp hỗ trợ, lĩnh vực đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp đầu chuỗi, nhà cung ứng và hệ thống logistics.

Bà Trương Thị Chí Bình nhấn mạnh, liên kết vùng được tăng cường sẽ giúp hình thành các cụm công nghiệp, chuỗi sản xuất có chiều sâu, thay vì tình trạng mỗi địa phương phát triển một khu công nghiệp nhỏ lẻ, thiếu kết nối. Khi ranh giới hành chính không còn là “rào cản mềm” sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án đầu tư lớn, đặc biệt là những dự án công nghiệp chế tạo, công nghiệp hỗ trợ có yêu cầu cao về quy mô và tính đồng bộ.

Một lợi ích quan trọng khác được bà Trương Thị Chí Bình chỉ ra, là sự tác động tích cực của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đối với cải cách thủ tục hành chính. Khi giảm bớt tầng nấc trung gian, các quyết định liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường hay hỗ trợ doanh nghiệp sẽ được xử lý nhanh hơn, minh bạch hơn.

Trong bức tranh tổng thể ấy, việc hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo công nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển công nghệ lõi là bước đi tiếp theo để nâng cao chất lượng tăng trưởng. Cùng với đó, kỳ vọng về việc sớm xây dựng và ban hành Luật Công nghiệp trọng điểm được xem là nền tảng pháp lý dài hạn, giúp các chính sách phát triển công nghiệp được triển khai nhất quán, ổn định, có tầm nhìn xa hơn.

Trong không khí đầu năm mới, “bức tranh” công nghiệp Việt Nam hiện lên với nhiều kỳ vọng. Những chuyển động từ chính sách đến thực tiễn cho thấy hướng đi rõ ràng: Phát triển công nghiệp không chỉ dựa vào mở rộng quy mô, mà dựa trên liên kết, hiệu quả và năng lực nội sinh. Đó chính là nền tảng để công nghiệp bước sang năm 2026 với tâm thế chủ động, tự tin và khát vọng phát triển bền vững hơn trong chặng đường phía trước.

Lê An