Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam: “Ngôi nhà chung” vững chắc cho các tổ chức hội viên
(Banker.vn) NĂM 2025 GHI DẤU ẤN LỊCH SỬ VỚI KHỐI LƯỢNG VĂN BẢN PHÁP LÝ HOÀN THIỆN CHƯA TỪNG CÓ CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG. TRONG CUỘC TRAO ĐỔI VỚI PHÓNG VIÊN TẠP CHÍ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ NHÂN DỊP NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026, ÔNG NGUYỄN QUỐC HÙNG, PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ HIỆP HỘI NGÂN HÀNG VIỆT NAM ĐÃ CHIA SẺ VỀ NHỮNG NỖ LỰC THÁO GỠ “NÚT THẮT” XỬ LÝ NỢ XẤU, THIẾT LẬP KỶ CƯƠNG TÍN DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA HIỆP HỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI HỘI VIÊN, HƯỚNG TỚI KỶ NGUYÊN MỚI.
NĂM 2025 GHI DẤU ẤN LỊCH SỬ VỚI KHỐI LƯỢNG VĂN BẢN PHÁP LÝ HOÀN THIỆN CHƯA TỪNG CÓ CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG. TRONG CUỘC TRAO ĐỔI VỚI PHÓNG VIÊN TẠP CHÍ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ NHÂN DỊP NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026, ÔNG NGUYỄN QUỐC HÙNG, PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ HIỆP HỘI NGÂN HÀNG VIỆT NAM ĐÃ CHIA SẺ VỀ NHỮNG NỖ LỰC THÁO GỠ “NÚT THẮT” XỬ LÝ NHNN.">NỢ XẤU, THIẾT LẬP KỶ CƯƠNG TÍN DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA HIỆP HỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI HỘI VIÊN, HƯỚNG TỚI KỶ NGUYÊN MỚI.
margin: 15px auto;" />Phóng viên: Năm 2025 đánh dấu những chuyển biến mang tính bước ngoặt về khung khổ pháp lý trong hoạt động ngân hàng. Nhìn lại hành trình vừa qua, đâu là những dấu ấn nổi bật mà Hiệp hội đã đạt được để khẳng định mạnh mẽ vai trò “ngôi nhà chung” – nơi bảo vệ quyền lợi và kết nối các tổ chức hội viên, thưa ông?
Ông Nguyễn Quốc Hùng: Có thể nói, năm 2025 là một năm đột phá trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý của cả hệ thống chính trị, trong đó có ngành Ngân hàng. Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành rà soát toàn diện các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp, đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế. Trong bối cảnh đó, ngành Ngân hàng đã chủ động tham mưu Thủ tướng trình Quốc hội thông qua 3 bộ luật, cũng như ban hành 19 Nghị định, 7 Quyết định và trực tiếp ban hành 191 Thông tư hướng dẫn. Quá trình xây dựng các văn bản pháp luật, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) luôn tiếp thu, lắng nghe ý kiến các tầng lớp dân cư, tổ chức, doanh nghiệp, người dân cũng như các hiệp hội ngành nghề.
Với vai trò và trách nhiệm của mình, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng dự thảo các quy định pháp luật từ luật, nghị định, thông tư… của các bộ, ngành nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng. Đối với nhiều nội dung chưa thống nhất, Hiệp hội đã chủ động mời tổ soạn thảo tổ chức tọa đàm, hội thảo, đối thoại… vì vậy nhiều ý kiến tham gia đóng góp đã được tổ soạn thảo các quy định pháp luật tiếp thu, sửa đổi phù hợp với thực tiễn.
Ngoài công tác phản biện chính sách, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức hội viên, Hiệp hội đã ban hành sổ tay, bộ quy tắc nhằm mục đích thống nhất phối hợp và tổ chức thực hiện giữa các tổ chức hội viên như: Bộ quy tắc và thực hành thống nhất về danh mục, nguyên tắc cung cấp chứng từ đối với giao dịch chuyển tiền một chiều ra nước ngoài của người cư trú là công dân Việt Nam; Sổ tay hướng dẫn phối hợp hỗ trợ xử lý rủi ro đối với tài khoản/thẻ/đơn vị chấp nhận thanh toán liên quan đến giao dịch chuyển tiền/thanh toán nghi ngờ gian lận, giả mạo, lừa đảo (Sổ tay hướng dẫn phối hợp xử lý rủi ro). Mặc dù mới ban hành và mới có hiệu lực, song các văn bản này đã phát huy hiệu quả rất đáng mừng. Hiện nay, Hiệp hội đã hoàn thiện dự thảo và chuẩn bị ban hành: Bộ Quy tắc ứng xử trong hoạt động thu hồi nợ; Sổ tay cung cấp dịch vụ thanh toán mã QR xuyên biên giới tại Việt Nam;… Việc ban hành các sổ tay, bộ quy tắc nhằm bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, tạo chuẩn mực chung, tính đồng bộ cho các tổ chức hội viên trong thực hành và tuân thủ pháp luật.

Phóng viên: Một trong những điểm nhấn về hành lang pháp lý quan trọng trong năm qua là các quy định tại Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu đã được luật hóa và trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) 2024 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV. Ông có thể chia sẻ những kiến nghị then chốt của Hiệp hội được Ban soạn thảo tiếp thu chính sửa trong luật, qua đó giúp các tổ chức hội viên tháo gỡ các “nút thắt” về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm?
Ông Nguyễn Quốc Hùng: Trước hết, cần khẳng định rằng, Nghị quyết 42/2017/QH14 đã phát huy tác dụng và hỗ trợ ngành Ngân hàng một cách hiệu quả trong công tác xử lý nợ xấu trong thời gian còn hiệu lực. Tuy nhiên, kể từ khi Nghị quyết 42/2017/QH14 hết hiệu lực cho đến trước khi được luật hóa, ý thức trả nợ của một số khách hàng thiếu thiện chí, chây ì, tìm mọi lý do trì hoãn trả nợ, bàn giao tài sản… dẫn tới ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác xử lý nợ xấu. Do vậy, Nghị quyết 42 được luật hóa tại Luật Các TCTD năm 2025 là bước đi rất quan trọng, nhằm tạo hành lang pháp lý ổn định, lâu dài cho công tác xử lý nợ xấu và thu hồi tài sản bảo đảm.
Xuất phát từ thực tiễn quá trình xây dựng dự thảo và hoàn thiện luật hóa, Hiệp hội đã tham gia góp ý một cách đầy đủ, trách nhiệm và thể hiện rõ quan điểm về việc cho phép thu giữ tài sản bảo đảm thì các TCTD cần phải tuân thủ theo quy định pháp luật và thể hiện tính nhân văn trong quá trình thu hồi nợ xấu; tuy nhiên, cũng nhấn mạnh trách nhiệm của người vay trong việc trả nợ, trường hợp không thực hiện được nghĩa vụ thì phải chấp nhận việc xử lý tài sản bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Đây là nguyên tắc căn bản của quan hệ dân sự – tín dụng, không thể né tránh. Pháp luật cần đủ rõ ràng để người vay nhận thức được trách nhiệm cũng như hậu quả pháp lý khi không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đồng thời vẫn bảo đảm tính nhân văn trong quá trình áp dụng. Những nội dung góp ý của Hiệp hội trong quá trình sửa đổi luật đã được tiếp thu.
Phóng viên: Bên cạnh việc tham gia phản biện cơ chế chính sách, năm qua Hiệp hội cũng đã ban hành nhiều quy định nội bộ để thống nhất cách thực hiện của các tổ chức hội viên và bảo đảm an toàn hệ thống, trong đó, đáng chú ý là Sổ tay hướng dẫn phối hợp xử lý rủi ro. Tiếp nối thành công này, Hiệp hội sẽ triển khai giải pháp gì để tăng cường “lá chắn” bảo mật cho hệ thống và khách hàng?
Ông Nguyễn Quốc Hùng: Trong bối cảnh tội phạm công nghệ cao ngày càng tinh vi, an ninh thanh toán thực sự là một trong những vấn đề nóng nhất của ngành Ngân hàng trong năm vừa qua. Việc khách hàng bị kẻ gian lợi dụng thông qua hoạt động chuyển tiền và thanh toán thẻ diễn ra ngày càng phức tạp, tinh vi và có phần manh động; trong khi đó, sự phối hợp giữa các TCTD còn thiếu đồng bộ, các quy định pháp luật liên quan đến phong tỏa, điều tra, xử lý còn cần nhiều thời gian để triển khai và khó có thể ngăn chặn ngay luồng tiền lừa đảo. Việc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam ban hành Sổ tay hướng dẫn phối hợp xử lý rủi ro là một bước đi rất quyết liệt, thể hiện sự quyết tâm của ngành Ngân hàng nhằm hạn chế, ngăn chặn hành vi lừa đảo, gian lận.
Sổ tay này không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra một cơ chế phối hợp thống nhất giữa các TCTD, thể hiện sự đồng thuận của các TCTD trong công cuộc phòng, chống gian lận, lừa đảo. Trọng tâm của Sổ tay là yêu cầu các TCTD khi phát hiện hoặc nghi ngờ có dấu hiệu gian lận, lừa đảo phải vào cuộc ngay, phối hợp đồng bộ từ ngân hàng phát hiện đầu tiên đến các ngân hàng tiếp theo trong chuỗi giao dịch, nhằm kịp thời ngăn chặn dòng tiền trước khi bị tẩu tán. Quá trình xây dựng Sổ tay đã có rất nhiều cuộc trao đổi, tọa đàm, hội thảo để đi đến thống nhất về quan điểm và quy trình phối hợp xử lý, từ việc xây dựng các sơ đồ diễn biến luồng tiền đến xác định địa điểm cần can thiệp ở từng khâu.

Mong muốn của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới là Chính phủ thành lập hoặc chỉ đạo các bộ, ngành phối hợp thành lập tổ công tác liên ngành phòng, chống gian lận, lừa đảo trên không gian mạng, bao gồm các thành phần như Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ, cùng các ngân hàng thương mại và nhà mạng; có như vậy mới tháo gỡ được các vướng mắc trong phối hợp, phong tỏa tài khoản, xử lý xác minh, điều tra… ngay từ giai đoạn đầu.
Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam sẽ đánh giá quá trình triển khai Sổ tay để kịp thời sửa đổi, bổ sung khi cần thiết, nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống gian lận, lừa đảo trong lĩnh vực thanh toán, thẻ và khẳng định rõ vai trò, trách nhiệm của ngành Ngân hàng trong việc bảo vệ khách hàng, bảo đảm an toàn cho toàn bộ hệ thống.
Phóng viên: Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt mức hai con số trong năm 2026 và cả giai đoạn 2026–2030. Trong bối cảnh đó, đâu là những giải pháp chiến lược mà các tổ chức hội viên của Hiệp hội có thể triển khai nhằm góp phần cùng toàn ngành Ngân hàng thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng này, thưa ông?
Ông Nguyễn Quốc Hùng: Mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ giai đoạn 2026–2030 là mức tăng trưởng kinh tế đạt hai con số. Đây là quyết tâm rất lớn, đòi hỏi không chỉ nỗ lực của các cấp, các ngành mà của cả hệ thống chính trị nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng.
Để đạt được mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, cùng với các chính sách hỗ trợ vĩ mô khác. Trong đó, chính sách tiền tệ cần thể hiện đúng vai trò là công cụ hỗ trợ, bổ sung nguồn lực, không coi đó là nguồn lực chủ đạo cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới. Ngành Ngân hàng tiếp tục giữ vai trò “bà đỡ”, cung ứng vốn ngắn hạn, đồng thời tập trung vào tín dụng cho sản xuất – kinh doanh, xuất nhập khẩu và các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng thực sự.
Song song đó, chính sách tài khóa cần được điều hành theo hướng mở rộng hợp lý, chủ động, có trọng tâm, đó là tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển hạ tầng chiến lược; đồng thời phối hợp nhịp nhàng với các chính sách khác để bảo đảm ổn định vĩ mô, huy động hiệu quả nguồn lực trong nước và quốc tế, cũng như hỗ trợ quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Bên cạnh đó, thị trường vốn (bao gồm thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu…) phải phát huy đúng vai trò cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, khôi phục niềm tin đối với nhà đầu tư.

Đối với các tổ chức hội viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, tôi cho rằng, cần tiếp tục bám sát chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp kinh doanh, cung ứng vốn kịp thời cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, tiếp tục phát triển các sản phẩm tín dụng phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; khuyến khích các mô hình tài chính xanh, tín dụng xanh để vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa bảo đảm phát triển bền vững. Tăng tốc triển khai ngân hàng số, dịch vụ thanh toán số để mở rộng tiếp cận tài chính cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, cần lưu ý không chạy theo “tăng trưởng bằng mọi giá”, mà phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, đặc biệt là rủi ro thanh khoản và nợ xấu. Các tổ chức hội viên cần vừa đóng vai trò là “đòn bẩy” vốn cho nền kinh tế, vừa là “lá chắn” bảo vệ hệ thống trước rủi ro. Chỉ khi kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng tín dụng, quản trị rủi ro, chuyển đổi số và hợp tác quốc tế, ngành Ngân hàng mới có thể đạt được hiệu quả tối đa trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Chính phủ và Quốc hội đã đề ra.
Phóng viên: Hướng tới Đại hội nhiệm kỳ mới sẽ diễn ra trong năm 2026, ông kỳ vọng Hiệp hội sẽ chuyển mình ra sao để tiếp tục là chỗ dựa vững chắc cho các hội viên trong giai đoạn 5 năm tới?
Ông Nguyễn Quốc Hùng: Hướng tới Đại hội nhiệm kỳ mới năm 2026, tôi kỳ vọng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam sẽ có những bước chuyển mình mạnh mẽ để tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa vững chắc cho các tổ chức hội viên trong giai đoạn đầy thách thức tới. Trước hết, Hiệp hội cần tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa các TCTD và cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời hỗ trợ, động viên hội viên, phản ánh kịp thời những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách; tham gia phản biện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức hội viên.
Đặc biệt, từ năm 2026 trở đi, trách nhiệm của Hiệp hội trong việc lắng nghe thực tiễn hoạt động của các TCTD để phản ánh tới cơ quan quản lý nhà nước càng trở nên quan trọng. Bởi năm 2025 là năm bản lề với việc ban hành số lượng lớn văn bản quy phạm pháp luật. Khi các văn bản này đi vào thực tiễn, nếu phát sinh vướng mắc ảnh hưởng đến hoạt động của TCTD, cũng như khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, Hiệp hội cần nhanh chóng tiếp nhận ý kiến từ hội viên để kịp thời phản ánh, kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Việc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi nếu không được điều chỉnh kịp thời, các TCTD sẽ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động.
Bên cạnh đó, Hiệp hội sẽ tiếp tục phối hợp với các TCTD trong việc triển khai các quy định pháp luật. Với những nội dung còn chưa rõ ràng, chưa thống nhất trong cách hiểu và thực hiện, Hiệp hội sẽ đóng vai trò đầu mối làm việc với cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm, trao đổi, giải đáp cùng các bộ, ngành liên quan, nhằm hỗ trợ hội viên thực hiện đúng quy định, hạn chế rủi ro và tránh vi phạm.
Một nội dung quan trọng khác là công tác truyền thông. Hiệp hội với cơ quan báo chí, truyền thông của mình sẽ phối hợp với các cơ quan báo chí trong và ngoài ngành Ngân hàng để tuyên truyền tới các TCTD, doanh nghiệp và người dân về mục tiêu chiến lược, định hướng và kế hoạch triển khai của ngành Ngân hàng, cũng như của các tổ chức hội viên trong giai đoạn tới. Đồng thời, lắng nghe và phản ánh những khó khăn, vướng mắc liên quan đến thị trường vốn, thị trường tiền tệ, cũng như công tác thu hồi nợ và xử lý nợ xấu của những tổ chức hội viên tới cấp có thẩm quyền để có những tháo gỡ kịp thời.
Trong nhiệm kỳ mới, tôi kỳ vọng, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam sẽ tiếp tục chuyển mình theo hướng bám sát thực tiễn, lấy nhu cầu và khó khăn của các tổ chức hội viên làm trung tâm, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm như: phản ánh và kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách; hỗ trợ triển khai pháp luật; quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Chính phủ; đồng hành cùng các TCTD trong xử lý nợ, đặc biệt là thu hồi nợ xấu, qua đó tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa vững chắc cho các hội viên trong giai đoạn 5 năm tới.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

