• Đề nghị EAEU mở cửa hơn nữa với thủy sản và dệt may Việt Nam
  • Xung đột Trung Đông: Dệt may lo đội chi phí logistics
  • Xung đột Trung Đông: Dệt may đối mặt rủi ro đơn hàng

Áp lực nội địa hóa và những điểm nghẽn chưa dễ vượt

Chia sẻ với truyền thông bên lề Hội thảo chuyên đề “Động lực nội địa hóa ngành dệt may Việt Nam - Thu hút đầu tư nguồn cung thiếu hụt” diễn ra tại Ninh Bình, ngày 4/3, ông Vũ Đức Giang - Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho hay, trong 5 năm gần đây, đặc biệt giai đoạn 2024 - 2025, dòng vốn vào ngành dệt may đã có sự dịch chuyển rõ rệt về phía sản xuất sợi - dệt - nhuộm. Tỷ trọng đầu tư vào các khâu này tăng khá nhanh, nguyên phụ liệu hiện chiếm hơn 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành.

margin: 15px auto;" />

Ông Vũ Đức Giang - Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam. Ảnh: Trường Giang

Tuy nhiên, con số ấy chưa đồng nghĩa với sự tự chủ, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là vải và một số hóa chất, phụ liệu đặc thù. Điều này khiến doanh nghiệp bị động trước biến động logistics, tỷ giá, rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và đặc biệt là khó đáp ứng quy tắc xuất xứ trong các Hiệp định thương mại tự do như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hay Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).

Nếu không chủ động được nguyên phụ liệu, chúng ta rất khó thích ứng với cách mua hàng toàn cầu và yêu cầu mới của các Hiệp định thương mại tự do trong giai đoạn từ năm 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035”, ông Vũ Đức Giang thẳng thắn cho hay.

Cũng theo lãnh đạo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, thách thức đầu tiên doanh nghiệp dệt may trong nước phải đối mặt là yêu cầu bắt buộc về xuất xứ. Các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới không chỉ ưu đãi thuế quan mà còn đặt điều kiện rõ ràng về tỷ lệ nội địa hóa. Nếu vải không được sản xuất tại Việt Nam hoặc trong khối, doanh nghiệp khó tận dụng ưu đãi.

Tiếp đó là thay đổi trong chính sách mua hàng của các nhãn hàng quốc tế. Mô hình FOB buộc nhà sản xuất Việt Nam phải chủ động nguồn vải trong nước, thay vì phụ thuộc nhập khẩu như trước.

Tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe, đặc biệt từ thị trường EU. Vải sản xuất tại Việt Nam không chỉ cần đạt chất lượng mà còn phải đáp ứng tiêu chí xanh, sử dụng nguyên liệu tái chế, giảm phát thải.

Cuối cùng là bài toán thời gian và chi phí. Khi nhãn hàng yêu cầu giao nhanh hơn, giá cạnh tranh hơn, việc sử dụng vải trong nước giúp rút ngắn chu kỳ sản xuất, giảm chi phí vận chuyển và áp lực tài chính.

Nhưng nghịch lý ở chỗ, chính khâu nhuộm hoàn tất, vốn là “mắt xích” then chốt để nâng tỷ lệ nội địa hóa, lại đang vấp phải nhiều rào cản. Ông Vũ Đức Giang cũng chỉ ra ba “nút thắt” lớn.

Một là, tâm lý e ngại ô nhiễm môi trường tại nhiều địa phương. Dù công nghệ xử lý nước thải hiện đại đã chứng minh khả năng kiểm soát tốt, nhưng không ít tỉnh thành vẫn dè dặt khi tiếp nhận dự án nhuộm.

Hai là, quỹ đất cho dệt nhuộm chưa được quy hoạch tập trung. Miền Bắc mới có một số khu như Bảo Minh, Rạng Đông (tỉnh Ninh Bình); miền Nam có tại tỉnh Tây Ninh; trong khi miền Trung gần như thiếu hẳn quỹ đất dành cho ngành này.

Ba là, vấn đề nhận thức và tầm nhìn phát triển công nghiệp. Phát triển dệt may không thể chỉ dừng ở khâu may vốn là “phần ngọn” mà phải đi từ gốc là nguyên liệu đầu vào. “Nếu không có chiến lược dài hạn, việc thu hút đầu tư vào phần cung thiếu hụt sẽ tiếp tục chậm nhịp”, ông Vũ Đức Giang nói.

Chỉ chính sách hỗ trợ là chưa đủ

Trước những điểm nghẽn đó, theo bà Trần Thu Hương, đại diện Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương, chính sách hỗ trợ đã được xây dựng đồng bộ từ Chính phủ đến cấp ngành.

Ngày 29/12/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1643/QĐ-TTG phê duyệt Chiến lược phát triển ngành dệt may và da giày đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035. Trọng tâm là thúc đẩy đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu, phát triển công nghiệp hỗ trợ, xây dựng các khu công nghiệp tập trung chuyên ngành theo chuỗi sợi - dệt - nhuộm - hoàn tất.

Doanh nghiệp cần nỗ lực hơn nữa biến chính sách hỗ trợ của nhà nước thành động lực phát triển. Ảnh minh hoạ: Dony

Về chính sách thuế, Nghị định số 205/2025/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ. Theo đó, quy định các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển, trong đó có dệt may, được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 15 năm; miễn thuế 4 năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo nếu đáp ứng đủ điều kiện.

Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ theo Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 18 tháng 1 năm 2017 đã hỗ trợ hàng nghìn lượt doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế, mở rộng thị trường thông qua đào tạo, tư vấn, hội thảo và kết nối giao thương. "Cục Công nghiệp đang trình Thủ tướng phê duyệt chương trình giai đoạn 2026 - 2035 để tiếp tục duy trì động lực này", bà Trần Thu Hương cho hay.

Song song đó, Bộ đang xây dựng bộ tiêu chí nội địa hóa, nghiên cứu điều chỉnh chính sách thuế, phí theo hướng khuyến khích sản xuất trong nước, phát triển chuỗi cung ứng nội địa và giảm phát thải khí nhà kính.

Về không gian phát triển, chiến lược đã định hướng rõ địa bàn đầu tư: Miền Bắc với tỉnh Ninh Bình, Hưng Yên; miền Trung gồm Thanh Hóa, Nghệ An, TP. Huế, Quảng Ngãi…; miền Nam với Tây Ninh... “Những khu công nghiệp như Rạng Đông, Bảo Minh, Thủ Thừa hay Trảng Bàng đang được định vị là hạt nhân cho phát triển dệt nhuộm công nghệ cao, có hệ thống xử lý nước thải đồng bộ”, bà Trần Thu Hương thông tin.

Tuy nhiên, theo đại diện Cục Công nghiệp, chính sách dù đầy đủ đến đâu cũng cần sự đồng hành của địa phương và quyết tâm từ doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải chủ động tái cấu trúc, đầu tư công nghệ tự động hóa, chuyển đổi xanh, đa dạng hóa sản phẩm; hiệp hội cần tăng cường kết nối, tham vấn chính sách; địa phương phải nhìn dệt nhuộm không chỉ qua lăng kính rủi ro môi trường mà trong tổng thể chuỗi giá trị.

Bài toán thu hút đầu tư vào “phần cung thiếu hụt” vì thế không chỉ là câu chuyện vốn, mà là câu chuyện tầm nhìn phát triển công nghiệp. Khi nguyên phụ liệu được sản xuất trong nước, chuỗi cung ứng sẽ ngắn lại, chi phí được kiểm soát tốt hơn, khả năng đáp ứng đơn hàng nhanh và linh hoạt hơn. Quan trọng hơn, dệt may Việt Nam sẽ bước thêm một bước từ gia công sang làm chủ chuỗi giá trị.

2 tháng đầu năm 2026, ngành dệt may Việt Nam xuất khẩu khoảng 6,26 tỷ USD, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân sụt giảm là do trong tháng 2/2026 có kỳ nghỉ tết Nguyên đán kéo dài nên ảnh hưởng đến sản xuất và giao hàng.

Hải Linh - Trường Giang