Lịch âmCông cụ tínhDashboardSPECIAL
Tin mớiNgân hàngVN30
Banker.vn - Tin tức Tài chính Ngân hàng
banner
  • Trang chủ
  • Ngân hàng
  • Thị trường
  • Tài chính
  • Quốc tế
  • Công nghệ
  • Xã hội
  • Đầu tư
  • Năng lượng
  • FTA
  • Giá xe
HOT
Banker Logo
Tin mới
Banker Logo
Trang chủ

Tài chính - Ngân hàng

Ngân hàng
Thị trường
Tài chính
Đầu tư

Tin tức

Quốc tế
Công nghệ
Xã hội
Năng lượng
FTA

Tiện ích

Giá xe
Tin mới nhất
Trang chủChứng khoán

Chính phủ ban hành loạt Nghị định quan trọng về khu công nghệ số tập trung, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản lý vốn ngân sách nhà nước và chính sách thuế giá trị gia tăng

03/01/2026 - 10:2512 phút đọcGoogle News

(Banker.vn) Ngày 31/12/2025, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định quan trọng liên quan đến phát triển khu công nghệ số tập trung, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản lý vốn ngân sách nhà nước và chính sách thuế.

Nghị định số 354/2025/NĐ-CP quy định về khu công nghệ số tập trung

Nghị định quy định chi tiết khoản 1 và khoản 3 Điều 22; khoản 3 Điều 23 và khoản 3 Điều 25 của Luật Công nghiệp công nghệ số; đồng thời quy định biện pháp thi hành Điều 5 và Điều 24 của Luật Công nghiệp công nghệ số về quản lý và phát triển khu công nghệ số tập trung. Nghị định làm rõ các tiêu chí, điều kiện thành lập, chính sách ưu đãi và quy định đối với doanh nghiệp chế xuất trong khu công nghệ số tập trung.

Theo Nghị định, khu công nghệ số tập trung có chức năng nghiên cứu và phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ số; sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ số, cung ứng dịch vụ công nghệ số, bao gồm sản phẩm phần mềm, phần cứng, điện tử thuộc Danh mục sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm. Khu công nghệ số tập trung cũng thực hiện nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử chip bán dẫn; nghiên cứu, sản xuất thiết bị, máy móc, công cụ phục vụ trực tiếp cho công nghiệp bán dẫn; đào tạo, bồi dưỡng nhân lực công nghiệp công nghệ số; ươm tạo công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số; xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư về công nghệ số và cung cấp hạ tầng, dịch vụ, điều kiện làm việc, học tập cho tổ chức, doanh nghiệp và người lao động trong khu.

Về quy mô, khu công nghệ số tập trung phải có diện tích tối thiểu từ 5 ha trở lên; trường hợp khu chỉ tập trung sản xuất phần mềm, sản phẩm nội dung số và cung cấp dịch vụ công nghệ số thì diện tích tối thiểu từ 1 ha trở lên. Về nhân lực, khu công nghệ số tập trung phải có tối thiểu 2.000 nhân lực công nghiệp công nghệ số; đối với khu chỉ thực hiện sản xuất phần mềm, nội dung số và cung cấp dịch vụ công nghệ số thì tối thiểu 1.000 nhân lực. Nhân lực công nghiệp công nghệ số phải chiếm tối thiểu 60% tổng số lao động làm việc trong khu.

Nghị định quy định khu công nghệ số tập trung được tổ chức thành hai nhóm phân khu chức năng chính gồm: nhóm phân khu thực hiện hoạt động công nghiệp công nghệ số và nhóm phân khu cung cấp dịch vụ cho khu công nghệ số tập trung. Tổng diện tích đất của nhóm phân khu thực hiện hoạt động công nghiệp công nghệ số phải chiếm tối thiểu 50% diện tích toàn khu. Mật độ xây dựng thuần tối đa của lô đất xây dựng tòa nhà, cơ sở sản xuất là 60% diện tích lô đất; tỷ lệ cây xanh, giao thông và các khu kỹ thuật tối thiểu 21% diện tích toàn khu công nghệ số tập trung.

Điều kiện thành lập khu công nghệ số tập trung bao gồm: phù hợp với chính sách phát triển công nghệ số, công nghiệp công nghệ số; phù hợp với chiến lược, chương trình, kế hoạch quốc gia và cấp bộ, ngành; phù hợp với quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông, quy hoạch vùng (nếu có), quy hoạch tỉnh và quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt; bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa; đáp ứng tiêu chí về quy mô diện tích, quy hoạch phân khu chức năng và có phương án thành lập phù hợp với chức năng của khu công nghệ số tập trung.

Khu công nghệ số tập trung được áp dụng các chính sách ưu đãi theo quy định tại Điều 24 Luật Công nghiệp công nghệ số và các quy định pháp luật có liên quan. Nhân tài, nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao làm việc trong khu được miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân theo quy định; được hưởng các chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài. Các dự án đầu tư trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm dữ liệu; dự án nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử chip bán dẫn; dự án sản xuất sản phẩm công nghệ số thuộc danh mục khuyến khích phát triển được áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt theo pháp luật về đầu tư.

Nghị định cũng quy định cụ thể đối với doanh nghiệp chế xuất trong khu công nghệ số tập trung. Theo đó, doanh nghiệp chế xuất phải được ngăn cách với lãnh thổ bên ngoài bằng hệ thống tường rào, có cổng, cửa ra vào, bảo đảm điều kiện kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan và cơ quan chức năng theo quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan. Việc đăng ký đầu tư thực hiện theo pháp luật về đầu tư, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quy định của Nghị định này. Doanh nghiệp chế xuất khi đáp ứng điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan được áp dụng các quy định riêng đối với doanh nghiệp chế xuất trong khu công nghiệp, khu kinh tế theo pháp luật hiện hành.

Nghị định số 354/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026.

Nghị định số 356/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân

Nghị định nêu rõ quy định điều kiện của tổ chức kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân, theo đó, tổ chức phải được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, đáp ứng các điều kiện theo quy định. Về nhân sự, người đứng đầu phụ trách chuyên môn về xử lý dữ liệu cá nhân của tổ chức phải là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam; có đội ngũ quản lý, điều hành đáp ứng yêu cầu chuyên môn xử lý dữ liệu cá nhân; có tối thiểu 3 nhân sự đủ điều kiện năng lực theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định. Tổ chức phải có hạ tầng, hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất và công nghệ phù hợp với dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân; có kết quả đạt yêu cầu đối với hồ sơ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân và hồ sơ đánh giá tác động chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới trong trường hợp có chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới.

Nghị định quy định trách nhiệm của tổ chức kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân gồm: tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân; thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân, bên xử lý dữ liệu cá nhân; xây dựng khung quản trị rủi ro về bảo vệ dữ liệu cá nhân phù hợp với dịch vụ cung cấp; thực hiện đánh giá hiện trạng tuân thủ và mức độ tín nhiệm về bảo vệ dữ liệu cá nhân định kỳ 1 năm/lần; áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng; xây dựng quy định về trách nhiệm và quyền hạn của tổ chức trong xử lý dữ liệu cá nhân.

Tổ chức kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân có trách nhiệm bảo đảm việc xử lý dữ liệu cá nhân đúng mục đích, giới hạn việc thu thập, chuyển giao, lưu trữ phù hợp và theo quy định pháp luật; ngăn chặn việc truy cập, thu thập, sử dụng, tiết lộ trái phép hoặc các rủi ro tương tự trong hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân. Trường hợp là bên xử lý dữ liệu cá nhân, tổ chức phải yêu cầu bên kiểm soát dữ liệu cá nhân xin sự đồng ý của chủ thể dữ liệu theo quy định trước khi cung cấp dịch vụ, bảo đảm chủ thể dữ liệu cá nhân được biết về loại dữ liệu cá nhân xử lý, mục đích xử lý và tổ chức cung cấp dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân. Đồng thời, tổ chức thực hiện việc xác thực danh tính theo quy định pháp luật về định danh và xác thực điện tử.

Nghị định quy định Bộ Công an là cơ quan có thẩm quyền cấp, cấp lại, cấp đổi, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân. Bộ trưởng Bộ Công an giao cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân thực hiện việc cấp, cấp lại, cấp đổi, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân theo quy định.

Nghị định cũng quy định các trường hợp tổ chức kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân, bao gồm: không bảo đảm một trong các điều kiện theo quy định; không kinh doanh dịch vụ từ 12 tháng trở lên; bị giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật; không khắc phục vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin, an ninh mạng, an ninh dữ liệu theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hoặc chủ động đề nghị xin đình chỉ hoặc chấm dứt hoạt động. Cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân quyết định việc thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân, đồng thời tổ chức kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân có trách nhiệm nộp lại Giấy chứng nhận đã được cấp trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định thu hồi.

Nghị định số 358/2025/NĐ-CP quy định chi tiết việc quản lý, sử dụngvốn ngân sách nhà nước trong thực hiệnchương trình mục tiêu quốc gia

Nghị định gồm 9 chương, 60 điều, quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về: lập, phê duyệt, giao, điều chỉnh kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 5 năm và hằng năm; quản lý, sử dụng nguồn vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia; cơ chế tổ chức thực hiện dự án đầu tư xây dựng quy mô nhỏ, tính chất kỹ thuật đơn giản, có sự tham gia của người dân; cơ chế tổ chức thực hiện hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc chương trình mục tiêu quốc gia; phân cấp quản lý, nâng cao năng lực, truyền thông và công khai thông tin về chương trình mục tiêu quốc gia; theo dõi, kiểm tra, đánh giá, giám sát và chế độ báo cáo kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia.

Về quản lý, sử dụng vốn ngân sách nhà nước trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, Nghị định quy định vốn ngân sách nhà nước được bố trí trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch tài chính 5 năm, dự toán ngân sách nhà nước hằng năm và kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước hằng năm tại các cấp. Ngân sách trung ương thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia được bố trí theo nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia và kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 5 năm.

Đối với ngân sách địa phương, địa phương nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia có trách nhiệm bố trí ngân sách địa phương giai đoạn 5 năm, cân đối ngân sách địa phương hằng năm không thấp hơn mức vốn đối ứng thực hiện từng chương trình theo quy định của cấp có thẩm quyền. Địa phương không nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương có trách nhiệm bố trí ngân sách địa phương giai đoạn 5 năm và cân đối ngân sách nhà nước hằng năm để thực hiện từng chương trình mục tiêu quốc gia.

Nghị định quy định việc phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện từng chương trình mục tiêu quốc gia phải tuân thủ quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư từng chương trình mục tiêu quốc gia, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương, bảo đảm đầu tư trọng tâm, trọng điểm, công khai, minh bạch, không trùng lặp, quản lý tập trung, thống nhất về mục tiêu, cơ chế, chính sách.

Việc phân bổ ngân sách trung ương hằng năm cho bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia căn cứ khả năng cân đối ngân sách nhà nước và kết quả đánh giá tình hình thực hiện, sử dụng, giải ngân ngân sách nhà nước năm trước; ưu tiên bố trí ngân sách trung ương để thực hiện đầu tư, chính sách hỗ trợ tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng biên giới, biển đảo.

Trường hợp hủy hoặc không phân bổ được dự toán, kế hoạch trong năm do không còn đối tượng hỗ trợ hoặc hết nhiệm vụ chi, thực hiện điều chỉnh giảm tổng mức bố trí từ ngân sách trung ương giai đoạn 5 năm và các năm tiếp theo theo từng chương trình tương ứng với mức vốn, kinh phí dự kiến bố trí trong giai đoạn thực hiện đã hết đối tượng, nhiệm vụ chi.

Thủ tướng Chính phủ giao ngân sách trung ương cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương theo tổng vốn chương trình, chi tiết chi đầu tư và chi thường xuyên; các bộ, cơ quan trung ương và địa phương quyết định phân bổ chi tiết theo nội dung, nhiệm vụ, lĩnh vực chi, dự án đầu tư, dự án thành phần thuộc từng chương trình mục tiêu quốc gia. Các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước phải bảo đảm đúng mục tiêu, đúng đối tượng, trọng tâm, trọng điểm, không để xảy ra trùng lặp, thất thoát, lãng phí.

Ngân sách nhà nước bảo đảm thực hiện các nội dung, hoạt động của chương trình mục tiêu quốc gia theo quyết định phê duyệt của cấp có thẩm quyền; hoạt động theo dõi, kiểm tra, đánh giá và hoạt động của Ban Chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia các cấp.

Việc quản lý, tạm ứng, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư công thực hiện nhiệm vụ, dự án đầu tư thuộc chương trình mục tiêu quốc gia thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Nghị định của Chính phủ về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công, Điều 12 Nghị định số 358/2025/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Việc quản lý, tạm ứng, thanh toán, quyết toán kinh phí chi thường xuyên ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, các nghị định của Chính phủ và thông tư của Bộ Tài chính có liên quan.

Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều củaNghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng

Nghị định được ban hành nhằm bảo đảm phù hợp với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng.

Về đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, điểm a khoản 1 Điều 1 Luật số 149/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 quy định sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua các sản phẩm này bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Để phù hợp với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 359/2025/NĐ-CP bổ sung khoản 1b sau khoản 1 Điều 4 của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP. Theo đó, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Nghị định quy định rõ trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán các sản phẩm nêu trên cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng. Trường hợp bán cho hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất 5% quy định tại khoản 3 Điều 19 của Nghị định. Đối với hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp, khi bán các sản phẩm nêu trên ở khâu kinh doanh thương mại thì thuế giá trị gia tăng phải nộp được tính theo doanh thu với tỷ lệ 1%.

Nghị định số 359/2025/NĐ-CP cũng bãi bỏ khoản 3 Điều 37 và khoản 3 Điều 39 của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP. Khoản 3 Điều 37 của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP trước đây quy định điều kiện người bán đã kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng đối với hóa đơn xuất cho cơ sở kinh doanh đề nghị hoàn thuế; khoản 3 Điều 39 quy định việc áp dụng nội dung này cho kỳ tính thuế từ tháng 7/2025 hoặc quý III/2025.

Nghị định số 359/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026.

Đối với cơ sở kinh doanh thuộc trường hợp hoàn thuế theo quy định tại Điều 15 Luật Thuế giá trị gia tăng đã nộp hồ sơ hoàn thuế và được cơ quan quản lý thuế tiếp nhận trước ngày 1/1/2026 nhưng chưa ban hành quyết định hoàn thuế hoặc quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu ngân sách nhà nước thì không phải đáp ứng điều kiện người bán đã kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng đối với hóa đơn đã xuất cho cơ sở kinh doanh đề nghị hoàn thuế.

Minh Ngọc

Theo: Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ
    Bài cùng chuyên mục

      Tiêu điểm tuần

      • Ảnh bài viết

        XSDN 31/12, trực tiếp kết quả xổ số Đồng Nai hôm nay 31/12/2025

      • Nỗi "trăn trở" lớn nhất về thị trường bất động sản năm 2025

      • Mẫu điện thoại "mất giá" nhất năm 2025: Giảm mạnh 6 triệu, hiệu năng vẫn đủ dùng

      • LaChateau – khách sạn 5 sao thuần Việt tạo dấu ấn kiến trúc độc đáo

      • Đà Nẵng: Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ tăng năng lực cạnh tranh

      • Techcombank bắt tay Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, đồng hành cùng hơn 5 triệu hộ kinh doanh trước bước ngoặt chính sách thuế

      • Bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng cuối năm 2025 lộ rõ sự phân hóa

      Lãi suất ngân hàng

      Lãi suất 6 tháng cao nhất: PGBank 7.1%
      Lãi suất 12 tháng cao nhất: PGBank 7.2%
      Ngân hàng1T6T12T
      Ngân hàng An Bình35.25.3
      Ngân hàng Á Châu3.54.55.3
      Agribank2.43.85.2
      Ngân hàng Bắc Á4.556.56.6
      Ngân hàng Bảo Việt3.75.55.8

      Tỷ giá ngoại tệ

      Ngoại tệMuaBán
      USD26.04726.377
      EUR30.045,2131.653,29
      GBP34.395,9135.883,32
      JPY161,9172,32
      CNY3.663,113.821,52
      AUD17.113,4517.853,5
      SGD19.894,2620.796,12
      KRW15,7218,97
      CAD18.697,1319.505,67
      CHF32.290,9833.687,36

      Giao dịch hàng hoá

      Hàng hoáGiá%
      Vàng4,341.80-0.45%
      Bạc72.19+0.09%
      Dầu WTI57.32-0.30%
      Dầu Brent60.80-0.08%
      Khí thiên nhiên3.64-0.05%
      Đồng5.70-1.03%
      Cà phê Hoa Kỳ loại C355.10+1.82%
      Cà phê London3,957.00+2.20%
      Than cốc luyện kim Trung Quốc1,633.000.00%
      Xăng RBOB1.70-0.65%
      Banker.vn Logo

      Trang tin tức tài chính - ngân hàng hàng đầu Việt Nam. Cập nhật nhanh chóng, chính xác các thông tin về lãi suất, tỷ giá, chứng khoán và thị trường tài chính.

      Chuyên mục

      • Ngân hàng
      • Thị trường
      • Tài chính
      • Quốc tế
      • Công nghệ
      • Xã hội

      Tin tức

      • Đầu tư
      • Năng lượng
      • FTA
      • Tin ngân hàng
      • Tin chứng khoán

      Công cụ

      • Công cụ tài chính
      • Từ điển thuật ngữ
      • Bảng giá VN30
      • Về chúng tôi
      • Liên hệ quảng cáo
      • Điều khoản sử dụng
      • Chính sách bảo mật

      Liên hệ

      • 16 Văn Cao, P. Liễu Giai,
        Q. Ba Đình, Hà Nội
      • 024.3999.2518
      • info@ubgroup.vn

      Dashboard Ngân hàng

      BIDVBIDVAgribankAgribankVietcombankVietcombankLPBankLPBankXem tất cả

      Đọc tin theo Ngân hàng

      ACBABBankBAC A BANKCBBankCo-opBankDongA BankTPBankTechcombankVietcombankVietinBankBIDVAgribankNAM A BANKSeABankSacombankLienVietPostBankHDBankVPBankNCBVietA BankKienlongbankSCBSHBSaigonbankSBVBAOVIET BankMBMBBankOceanbankGPBankPG BankVIBMSBEximbankPVcomBankVietbankNgân hàng Bản ViệtHSBCShinhan BankStandard CharteredWoori BankCIMB BankPublic BankHong Leong BankUOBANZIVBVRBVDBNgân hàng Chính sách xã hộiNgân hàng Nhà nước

      Đơn vị chủ quản: Công ty Cổ phần Tập đoàn UB

      Giấy phép số 2489/GP-TTĐT do Sở TT&TT TP. Hà Nội cấp ngày 27/08/2020

      ĐKKD số 0106080414 do Sở KH&ĐT TP. Hà Nội cấp ngày 09/01/2013

      Chịu trách nhiệm nội dung: Vũ Việt Hưng

      Mọi hành vi sao chép nội dung cần ghi rõ nguồn Banker.vn

      © 2026 Banker.vn - Bản quyền thuộc về Công ty Cổ phần Tập đoàn UB

      RSS Feed|Thiết kế bởi UB Group