• Đông Nam Á ứng phó biến động năng lượng từ xung đột tại Trung Đông
  • Xung đột tại Trung Đông: Dệt may có phải tính lại mục tiêu xuất khẩu?
  • Xuất khẩu nông sản cần chủ động trong 'luật chơi' MRL

margin-top: 0in; text-align: justify; line-height: 150%;">Gia tăng áp lực chi phí, logistics lên nông nghiệp Việt

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kịch bản ứng phó trước diễn biến xung đột tại Trung Đông. Theo báo cáo, xung đột không chỉ làm gia tăng áp lực lạm phát mà còn thúc đẩy sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng và thương mại toàn cầu, tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất, logistics và nhu cầu thị trường.

Thị trường Trung Đông chiếm khoảng chiếm 11% kim ngạch xuất khẩu ngành điều. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Trước hết, chi phí đầu vào nông nghiệp chịu ảnh hưởng rõ rệt từ biến động giá năng lượng. Giá dầu tăng kéo theo chi phí vận chuyển và giá vật tư nông nghiệp, đặc biệt là phân bón và nhiên liệu phục vụ sản xuất, khai thác, vận chuyển nông sản. Trong bối cảnh Đồng bằng sông Cửu Long bước vào vụ thu hoạch lúa Đông - Xuân, áp lực chi phí càng gia tăng. Dự báo, chi phí sản xuất có thể tăng 3-5%, qua đó làm tăng giá nông sản và tạo sức ép lên chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

Trong cơ cấu đầu vào, phân bón là yếu tố chịu tác động đáng kể. Dù Việt Nam cơ bản tự chủ được phân urê và lân, nhưng vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu đối với một số loại khác. Giá phân bón thế giới đã tăng và có thể tiếp tục tăng 5-15%, ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường trong nước.

Tương tự, giá thức ăn chăn nuôi có xu hướng tăng khoảng 1,5-2% do chi phí nguyên liệu nhập khẩu và vận tải quốc tế gia tăng, trong khi nguồn cung trong nước còn phụ thuộc lớn vào bên ngoài. Đối với thuốc bảo vệ thực vật, tác động chưa rõ rệt trong ngắn hạn, nhưng nếu xung đột kéo dài, chi phí năng lượng tăng có thể dẫn đến nguy cơ tăng giá và thiếu hụt cục bộ.

Ở khâu lưu thông, chi phí logistics và xuất khẩu chịu ảnh hưởng mạnh. Cước vận tải biển tăng 25-35%, thời gian vận chuyển kéo dài thêm 7-14 ngày do tàu phải điều chỉnh hành trình tránh khu vực rủi ro, làm giảm sức cạnh tranh của nhiều mặt hàng như thủy sản, gỗ và nông sản.

Đặc biệt, nhóm hàng tươi sống đối mặt rủi ro lớn hơn. Nhiều doanh nghiệp thủy sản gặp khó khăn trong vận chuyển, thậm chí tạm dừng xuất khẩu sang Trung Đông. Các lô hàng rau quả đã hạ cảng phải chờ lịch tàu mới, kéo dài thời gian vận chuyển, làm tăng chi phí bảo quản và nguy cơ suy giảm chất lượng.

Một số ngành hàng có tỷ trọng xuất khẩu lớn vào Trung Đông như điều, hồ tiêu đang đứng trước nguy cơ đình trệ. Nếu gián đoạn kéo dài, áp lực tồn kho, dòng tiền và giá thu mua nguyên liệu trong nước sẽ gia tăng. Đồng thời, việc gián đoạn tuyến vận tải qua Biển Đỏ - kênh đào Suez còn ảnh hưởng lan tỏa đến xuất khẩu sang châu Âu và Bắc Phi.

Ngoài ra, xung đột còn tác động gián tiếp đến cầu thị trường toàn cầu. Việc gián đoạn vận chuyển dầu qua eo biển Hormuz, tuyến trung chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu thế giới, có thể kéo theo suy giảm tăng trưởng kinh tế, qua đó làm giảm nhu cầu tiêu thụ nông sản tại nhiều thị trường.

Nâng sức chống chịu trước biến động toàn cầu

Dù kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang Trung Đông năm 2025 đạt hơn 1,74 tỷ USD, chỉ chiếm khoảng 2-2,2% tổng kim ngạch toàn ngành, song rủi ro gián tiếp từ chi phí năng lượng và logistics lại ảnh hưởng rộng đến năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên nhiều thị trường.

Ngành năm 2026, ngành nông nghiệp và môi trường phấn đấu đạt mức tăng trưởng 3,7- 4,0%; tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD. Trước những diễn biến khó lường, cơ quan quản lý đã xây dựng ba kịch bản ứng phó tương ứng với thời gian xung đột kéo dài 1 tháng, 3 tháng và 1 năm. Mỗi kịch bản đều dự báo mức suy giảm kim ngạch xuất khẩu khác nhau, chủ yếu do tác động lan tỏa tới Trung Đông, châu Âu và Bắc Phi.

Hiện Bộ Tài chính (Cục Thống kê) đang tiếp tục hoàn thiện mô hình đánh giá tổng thể để lượng hóa cụ thể mức độ ảnh hưởng tới tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp.

Trong bối cảnh rủi ro chưa thể dự báo chính xác, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định mục tiêu xuyên suốt là ổn định chi phí sản xuất, bảo vệ lợi nhuận người sản xuất, duy trì chuỗi cung ứng và nâng cao tính tự chủ dài hạn.

Trước mắt, các giải pháp tập trung vào ổn định nguồn cung vật tư đầu vào như phân bón, xăng dầu; triển khai cơ chế thu mua dự trữ lúa gạo nhằm hỗ trợ thị trường khi giá xuống thấp. Đồng thời, thiết lập “đường dây nóng” để tiếp nhận, xử lý kịp thời khó khăn từ doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân.

Công tác cảnh báo sớm rủi ro logistics quốc tế cũng được tăng cường, giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch vận chuyển. Các giải pháp tài chính như giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hỗ trợ lưu kho, bảo quản hàng hóa được xem xét triển khai để giảm áp lực dòng tiền.

Đa dạng hóa thị trường tiếp tục là hướng đi chiến lược, với trọng tâm mở rộng xuất khẩu sang Đông Á, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh, đồng thời tận dụng hiệu quả các FTA để gia tăng thị phần. Bên cạnh đó, các chính sách tín dụng và thuế được nghiên cứu điều chỉnh theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí, duy trì sản xuất.

Về dài hạn, ngành nông nghiệp tập trung nâng cao tính tự chủ thông qua cơ cấu lại sản xuất, thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ và gia tăng giá trị sản phẩm. Đồng thời, đẩy mạnh đàm phán mở cửa thị trường, mở rộng xuất khẩu chính ngạch vào các thị trường lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc; kiểm soát chặt chất lượng, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu “Nông sản Việt”.

Ở thị trường trong nước, các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ nội địa, phát triển thương mại điện tử, ổn định giá cả và bảo đảm an toàn thực phẩm cũng được triển khai đồng bộ.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong thách thức cũng mở ra cơ hội tái cấu trúc ngành theo hướng bền vững hơn. Việc chủ động kịch bản ứng phó không chỉ giúp giảm thiểu tác động trước mắt mà còn tạo nền tảng nâng cao khả năng chống chịu, thích ứng với biến động toàn cầu trong dài hạn.

Nguyễn Hạnh