Dấu ấn các kỳ đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam - Kỳ II: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951): Đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn
(Banker.vn) Đại hội lần thứ II của Đảng diễn ra từ ngày 11 - 19/02/1951, tại xã Vinh Quang (sau là xã Kim Bình), huyện Chiêm Hóa (cũ), tỉnh Tuyên Quang.
Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta. Trong bối cảnh đó, Đảng phát huy vai trò lãnh đạo, cầm quyền dẫn dắt và tổ chức toàn dân tiến hành công cuộc “kháng chiến - kiến quốc” thực hiện mục tiêu kháng chiến thắng lợi, đồng thời xây dựng chế độ dân chủ nhân dân. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đưa thế và lực của dân tộc ta đi lên, giành thế chủ động chiến lược, đẩy thực dân Pháp vào thế bị động. Những biến đổi của điều kiện lịch sử trong nước và quốc tế đến năm 1950 đòi hỏi Đảng phải bổ sung và phát triển đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và chính sách đối ngoại nhằm mục tiêu đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi. Nhằm đáp ứng những yêu cầu trên, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng được triệu tập.
margin: 15px auto;" />Đại hội lần thứ II của Đảng diễn ra từ ngày 11 - 19/02/1951, tại xã Vinh Quang (sau là xã Kim Bình), huyện Chiêm Hóa (cũ), tỉnh Tuyên Quang. Dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 766.349[4] đảng viên trong toàn Đảng.
Đại hội chủ trương xây dựng ở mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia, một Đảng cách mạng thích hợp với hoàn cảnh cụ thể, để lãnh đạo cuộc kháng chiến từng nước đến thắng lợi hoàn toàn. Ở Việt Nam, Đại hội quyết định xây dựng Đảng Lao động Việt Nam. Kế thừa truyền thống của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam đảm nhận sứ mệnh lịch sử trọng đại vừa tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân ta, vừa có nghĩa vụ giúp đỡ các Đảng cách mạng ở Lào và Campuchia đấu tranh thắng lợi.
Đại hội xác định khẩu hiệu chính của cách mạng Việt Nam là: “tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hoà bình thế giới”[5].
Đại hội đề ra hai nhiệm vụ chính của Đảng là: Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và tổ chức Đảng Lao động Việt Nam. Để hoàn thành những nhiệm vụ đó, Đại hội đề ra những chính sách và biện pháp tích cực: đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang về mọi mặt, củng cố và phát triển mặt trận dân tộc thống nhất, triệt để giảm tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của thực dân và Việt gian chia cho dân cày nghèo, bảo vệ nền kinh tế tài chính của ta, đấu tranh kinh tế với địch, tích cực giúp đỡ cuộc kháng chiến của Cao Miên và Lào, tiến tới thành lập Mặt trận thống nhất Việt - Miên - Lào,... Đối với công tác xây dựng Đảng, Đại hội xác định xây dựng Đảng Lao động Việt Nam là “một Đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để”; “đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội”[6].
Đại hội thông qua “Chính cương Đảng Lao động Việt Nam”, chỉ rõ: Cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, cho nên con đường tất yếu của nó là tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa là cả một quá trình lâu dài, và “đại thể trải qua ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc; giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội”[7]. Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau mà mật thiết liên hệ xen lẫn với nhau. Nhưng mỗi giai đoạn có nhiệm vụ trung tâm. Chính cương cũng nêu rõ 15 chính sách lớn của Đảng để đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi và đặt cơ sở kiến thiết quốc gia. Đảng phải tập trung lực lượng vào việc lãnh đạo chiến tranh. Mọi chính sách khác như chính sách văn hoá giáo dục, chính sách tôn giáo, chính sách dân tộc, chính sách mặt trận,… đều phải hướng vào mục tiêu chung là “đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi” .
Điều lệ mới của Đảng Lao động Việt Nam gồm 13 chương và 71 điều, xác định rõ mục đích, tôn chỉ của Đảng là “phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và tất cả các dân tộc đa số, thiểu số ở Việt Nam”[8]; Đảng là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và xây dựng Đảng theo nguyên tắc một Đảng vô sản kiểu mới: lấy dân chủ tập trung làm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt căn bản của Đảng; phê bình, tự phê bình là quy luật phát triển của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu hoạt động của Đảng.
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 19 ủy viên chính thức, và 10 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành đã cử ra Bộ Chính trị gồm có 07 ủy viên chính thức và một ủy viên dự khuyết. Đại hội bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng. Tổng Bí thư là đồng chí Trường Chinh
Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng là một sự kiện trọng đại trong đời sống chính trị của đất nước, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Đảng về mọi mặt. Đại hội đã tổng kết một bước quan trọng trong lý luận cách mạng Việt Nam, xác định đường lối tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội; công khai tuyên bố Việt Nam là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á, một bộ phận của phe dân chủ trên thế giới. Đường lối đúng đắn mà Đại hội đề ra chính là sự bổ sung, phát triển Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đó là “đại hội đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam”[9].
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.32-33.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.37
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12,tr. 435.
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.444.
(9) Xem Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. I (1930 - 1954), Quyển 2 (1945 - 1954), tr. 339.
Mời theo dõi tiếp Kỳ III: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960): Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà

