3 nhân tố gây sức ép

Trong giai đoạn cuối năm 2025, mặt bằng Interest Rate" data-glossary-def="Mức lãi mà ngân hàng trả cho người gửi tiền, phụ thuộc vào kỳ hạn và số tiền gửi.">lãi suất huy động đã có tín hiệu đảo chiều. Báo cáo triển vọng Việt Nam 2026 do Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) mới công bố cho thấy, từ tháng 10/2025, lãi suất tiền gửi đã bật tăng trên hầu hết các kỳ hạn, phản ánh áp lực ngày càng lớn đối với thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục mở rộng.

Tính đến giữa tháng 12, bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại tư nhân tăng 70 - 100 điểm cơ bản so với đầu năm, lên mức 5,82%. Với nhóm ngân hàng quốc doanh, lãi suất kỳ hạn này cũng tăng khoảng 50 điểm cơ bản, đạt 5,2%. Ở các kỳ hạn ngắn, mức tăng phổ biến dao động từ 80 - 120 điểm cơ bản tại nhiều ngân hàng.

Theo nhóm phân tích MBS, xu hướng này chưa dừng lại. Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng được dự báo có thể tiếp tục tăng thêm khoảng 50 điểm cơ bản trong năm 2026, đặt ra câu hỏi lớn về những yếu tố đang và sẽ tạo sức ép lên mặt bằng lãi suất trong giai đoạn tới.

Phân tích của MBS cho thấy, nguyên nhân đầu tiên gây sức ép đẩy mặt bằng lãi suất tăng trong năm 2026 xuất phát từ sự nới rộng chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại.

Trong trung hạn, nhu cầu vốn của nền kinh tế được dự báo tiếp tục tăng mạnh, gắn với mục tiêu nâng tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên GDP từ mức 32% hiện nay lên 40%. Trên cơ sở đó, MBS dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2026 có thể duy trì ở mức cao, khoảng 20%.

Từ tháng 10/2025, lãi suất tiền gửi đã bật tăng trên hầu hết các kỳ hạn. Ảnh: Ngọc Tuấn

Thực tế năm 2025 đã phản ánh rõ sự lệch pha này. Từ đầu năm, tín dụng tăng tốc mạnh mẽ, liên tục thiết lập các mức cao mới và đạt hơn 18,4 triệu tỷ đồng tính đến ngày 24/12, tương đương mức tăng 17,87% so với đầu năm. Trong khi đó, lãi suất cho vay vẫn được duy trì ở vùng thấp nhằm hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế, thì tăng trưởng huy động lại chậm hơn đáng kể.

Sự chênh lệch giữa cho vay và huy động đã tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống, buộc các ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất huy động vào những tháng cuối năm để đảm bảo nguồn vốn và tuân thủ các chỉ tiêu an toàn.

Bên cạnh đó, MBS chỉ ra một sức ép khác đến từ chênh lệch cấu trúc kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Hiện nay, tiền gửi ngắn hạn dưới 6 tháng vẫn chiếm tỷ trọng chủ đạo, khoảng 80% tổng tiền gửi của toàn hệ thống. Trong khi đó, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các kế hoạch đầu tư, đặc biệt là đầu tư hạ tầng, lại ở mức rất lớn.

Sự mất cân đối này khiến hệ thống ngân hàng đối mặt với tình trạng thiếu hụt vốn dài hạn, buộc các ngân hàng phải gia tăng cạnh tranh ở các kỳ hạn dài thông qua việc nâng lãi suất huy động. Đây là yếu tố mang tính cấu trúc, tạo sức ép bền bỉ lên mặt bằng lãi suất trong năm 2026.

Ngoài ra, chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng cũng là một nhân tố quan trọng. Theo MBS, tại thời điểm cuối quý III/2025, tỷ lệ nợ xấu và nợ nhóm 2 toàn ngành đạt khoảng 2%, tăng nhẹ so với cuối năm 2024. Đáng chú ý, tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành giảm xuống 84,3%, thấp hơn so với mức 91,4% ghi nhận vào cuối năm 2024.

Việc nợ xấu vẫn duy trì ở mức cao trong khi tỷ lệ bao phủ suy giảm cho thấy áp lực trích lập dự phòng của các ngân hàng thương mại sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Chi phí dự phòng tăng lên khiến dư địa giảm lãi suất bị thu hẹp, qua đó góp phần khiến mặt bằng lãi suất khó giảm trong ngắn hạn.

Điều hành lãi suất năm 2026: tăng nhưng không “sốc”

Trong khi MBS nhấn mạnh các yếu tố gây sức ép tăng lãi suất, Chứng khoán VPBankS cho rằng, Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng vẫn ưu tiên duy trì mặt bằng lãi suất thấp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong năm 2026.

Tuy nhiên, trước áp lực từ tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi (LDR) theo quy định, VPBankS dự báo Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ nâng trần lãi suất huy động thêm 25 điểm cơ bản trong quý II/2026. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng năm 2026 được dự báo duy trì ở mức cao, tương đương năm 2025, khoảng 18 - 20%, mức điều chỉnh này được đánh giá là tương đối khiêm tốn so với các chu kỳ điều chỉnh trong quá khứ.

Theo VPBankS, sau đợt điều chỉnh đầu tiên, lãi suất huy động có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản nữa sau khoảng một đến hai tháng, đưa tổng mức điều chỉnh trong cả năm 2026 lên khoảng 50 điểm cơ bản.

Một yếu tố được các nhà phân tích đề cập là cạnh tranh giữa ngân hàng và kênh vàng trong huy động vốn. Trong năm 2025, các ngân hàng đã phải cạnh tranh đáng kể với kênh vàng. Do đó, việc bãi bỏ cơ chế độc quyền nhà nước nhằm gia tăng nguồn cung vàng trong năm 2026 được kỳ vọng sẽ góp phần làm giảm áp lực huy động đối với hệ thống ngân hàng.

VPBankS cũng phân tích mối quan hệ giữa trần lãi suất huy động và lãi suất tái cấp vốn. Dù trong quá khứ từng có giai đoạn hai công cụ này điều chỉnh không đồng bộ, song trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước gần đây tập trung hơn vào việc điều hành tỷ giá trong biên độ hẹp, lãi suất tái cấp vốn được dự báo sẽ tái hội tụ với trần lãi suất huy động trong năm 2026. Kịch bản này hàm ý mức điều chỉnh tăng khoảng 75 điểm cơ bản trong quý II/2026.

Trong hai năm qua, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành linh hoạt kênh thị trường mở để hỗ trợ thanh khoản hệ thống. Đầu tháng 12, Ngân hàng Nhà nước triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ, theo đó mua USD giao ngay từ các ngân hàng thương mại và bán USD kỳ hạn 14 ngày, nhằm hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn.

Song hành với đó, Kho bạc Nhà nước đã gia tăng đáng kể lượng tiền gửi tại các ngân hàng quốc doanh để hỗ trợ nguồn vốn. Ngoài ra, thanh khoản và nguồn vốn của hệ thống cũng được kỳ vọng cải thiện nhờ các đợt cắt giảm lãi suất tiếp theo của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được đẩy nhanh, cùng với việc các hộ kinh doanh gửi tiền trở lại ngân hàng khi đã thích ứng với các quy định mới về thuế và hóa đơn điện tử.

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, giảng viên Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh: Mặt bằng lãi suất cho vay sẽ buộc phải duy trì ở mức hợp lý nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 8 - 10%. Về phía các ngân hàng, khi lãi suất huy động tăng, lãi suất cho vay buộc phải điều chỉnh, khiến biên lãi ròng (NIM) thu hẹp. Trong bối cảnh này, nhiều ngân hàng cắt giảm chi phí hoạt động thông qua ứng dụng công nghệ, tinh giản nhân sự, đóng bớt phòng giao dịch, chi nhánh. Nhờ đó, các ngân hàng có thể chấp nhận NIM mỏng hơn nhưng vẫn đảm bảo lợi nhuận.

Ngân Thương